Bài viết chuyên sâu

Thể chế Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Ngày đăng 28/06/2022 | 16:53  | Lượt xem: 214

Bài viết Tham gia Cuộc thi viết chính luận về Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch lần thứ 2 năm 2022 do Quận ủy Long Biên tổ chức

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX xác định chiến lược phát triển kinh tế đất nước trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở nước ta là: “ Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế…”; là đường lối chiến lược, sáng tạo của Đảng, là tầm cao trí tuệ vượt thời đại của Đảng cộng sản Việt Nam. Dưới ánh sáng của đường lối phát triển Kinh tế thị trường (KTTT) định hướng XHCN, sau hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã có sự phát triển khá ấn tượng về kinh tế - xã hội như:

- Lực lượng sản xuất, khoa học và sản xuất phát triển mạnh mẽ.

- Đời sống vật chất và tinh thần người dân được nâng cao.

- Cở sở hạ tầng phát triển khá.

- Vị thế đất nước trên trường quốc tế tốt.

- Quốc phòng an ninh, trật tự xã hội tốt.

Với những thành tựu kinh tế - xã hội đáng kích lệ mà đất nước đạt được, đã tạo niềm tin, phấn khởi của triệu triệu người dân Việt và bạn bè thế giới. Tuy nhiên các lực lượng thù địch, nhất là các tổ chức phản động trong và ngoài nước tỏ ra hằn học, chúng tìm cách xuyên tạc, bóp méo, bôi đen nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ tốt đẹp mà Việt Nam đang có. Có nhiều luận điểm phản động mà chúng đang rêu rao, liên quan đến thể chế KTTT định hướng XHCN, thông thường đó là:

1. Kinh tế thị trường và Chủ nghĩa xã hội là đối lập? KTTT định hướng XHCN chỉ là mỵ dân!

2. Hiện nay, trong thực tế đã có chủ nghĩa xã hội đâu mà định hướng ?

3. Đảng nói mục tiêu phấn đấu làm cho “ Dân giàu, nước mạnh”; vậy trên thế giới chính quyền nước nào chả phấn đấu như vậy ?

Đứng trước những luận điệu trên, không ít cán bộ, đảng viên phân vân, nghi ngờ hoặc im lặng. Sự phân vân, nghi ngờ hoặc im lặng có nguyên nhân sâu xa là trong thời gian dài do chủ quan, duy ý chí, muốn tiến nhanh, tiến mạnh lên CNXH. Chúng ta đã áp dụng máy móc việc xây dựng CNXH theo mô hình xây dựng CNXH kiểu Liên Xô, đó là mô hình kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp. Mô hình đó không thừa nhận kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường, không thừa nhận nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế.

Như chúng ta đã biết trong sự phát triển tự nhiên của sản xuất của loài người, KTTT là thành tựu của văn minh nhân loại. Lịch sử phát triển nền sản xuất xã hội cho thấy, sản xuất và trao đổi hàng hóa là tất yếu do sự xuất hiện của chế độ tư hữu và phân công lao động xã hội. Kinh tế hàng hóa (KTHH) là tiền đề quan trọng cho sự ra đời và phát triển của KTTT. Trong quá trình sản xuất và trao đổi, các yếu tố thị trường như cung, cầu, giá cả có tác động điều tiết quá trình sản xuất hàng hóa, phân bổ các nguồn lực kinh tế như vốn, tư liệu sản xuất, sức lao động phục vụ cho sản xuất, lưu thông. Thị trường giữ vai trò là một công cụ phân bổ các nguồn lực kinh tế. Trong một nền kinh tế, khi các nguồn lực kinh tế được phân bổ bằng nguyên tắc thị trường đó là kinh tế thị trường. KTTT, kể cả KTTT hiện đại là kinh tế hàng hóa đã phát triển ở trình độ cao. Yếu tố xuyên suốt chi phối sự phát triển của kinh tế hàng hóa là sự phát triển khách quan, tự nhiên trình độ ngày một cao, hiện đại hơn của lực lượng sản xuất xã hội. KTTT đã có mầm mống từ xã hội nô lệ, hình thành trong xã hội phong kiến và phát triển mạnh mẽ trong Chủ nghĩa tư bản (CNTB). Đến CNTB kinh tế thị trường đạt tới trình độ thị trường trở thành yếu tố quyết định tồn tại hay không tồn tại của người sản xuất hàng hóa, KTTT lấy khoa học, công nghệ hiện đại làm cơ sở vật chất và nền sản xuất đã xã hội hóa cao. CNTB không sản sinh ra kinh tế hàng hóa, do đó KTTT với tư cách là kinh tế hàng hóa ở trình độ cao không phải là sản phẩm riêng có của CNTB mà là thành tựu của văn minh nhân loại. Chỉ có thể chế KTTT tư bản chủ nghĩa hay cách thức sử dụng kinh tế thị trường theo lợi nhuận tối đa của CNTB mới là sản phẩm của CNTB.

 Trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin, thông qua sự đổi mới tư duy, đổi mới cơ chế vận hành nền kinh tế; chúng ta mới có nhận thức đầy đủ về sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Đảng ta cho rằng: trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Việt Nam tất yếu và cần thiết phải phát triển KTTT để khơi dậy và phát huy mọi nguồn lực của đất nước vì:

- KTTT có sự đa dạng các chủ thể kinh tế. Các chủ thể bình đẳng và cạnh tranh với nhau cung cấp hàng hóa dịch vụ cho thị trường. Mục đích của sản xuất thỏa mãn nhu cầu muôn vẻ ngày càng cao của xã hội.

- Thị trường quyết định phân bổ các nguồn lực xã hội theo mệnh lệnh của giá cả thị trường. Nghĩa là sản xuất kinh doanh phải có lãi.

- KTTT là nền kinh tế “ mở” có quan hệ chặt chẽ giữa kinh tế trong nước với kinh tế quốc tế. KTTT đối lập với kinh tế tự cung tự cấp, khép kín.

- KTTT có sự quản lý của nhà nước nhằm khắc phục những khuyết tật của KTTT.

Với tác dụng đó của KTTT, ngày nay hầu hết các nước đều phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường. Tuy vậy tùy điều kiện hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội mà các nước khác nhau lại có các mô hình KTTT khác nhau. Ngay các nước tư bản chủ nghĩa (TBCN) mô hình KTTT cũng không giống nhau. Trong thế giới đương đại đang hiện hữu 5 mô hình KTTT: Mô hình KTTT tự do Hoa Kỳ; Mô hình KTTT Nhật Bản; Mô hình KTTT xã hội cộng hòa Liên bang Đức; Mô hình KTTT nhà nước phúc lợi Thụy Điển và Bắc Âu; Mô hình KTTT đặc sắc Trung quốc.

 Ở Việt Nam xuất phát từ điều kiện chính trị kinh tế xã hội, Đảng ta xác định     “ Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN”  đó là mô hình KTTT Việt Nam. KTTT định hướng XHCN là nền kinh tế vận hành theo những qui luật vốn có của KTTT như qui luật giá trị, qui luật cạnh tranh, qui luật cung - cầu v..v nhưng theo định hướng XHCN với mục tiêu là “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

 Để có sức thuyết phục về mô hình KTTT của Việt Nam hiện nay, chúng ta đứng trước hai câu hỏi:

Một là: Kinh tế thị trường Việt Nam có khác gì kinh tế thị trường các nước tư bản?

Hai là: Định hướng XHCN được hiểu như thế nào vì hiện nay CNXH là mô hình chưa hiện thực?

 Kinh tế thị trường Việt Nam với định hướng XHCN là “ Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”... Câu trả lời này ĐÚNG nhưng chưa đủ sức thuyết phục. Vì, thực chất các nước khác trên thế giới theo Tư bản chủ nghĩa hiện nay họ đều phấn đấu dân giàu, nước mạnh...

Đúng vậy, thế giới ngày nay với cuộc cách mạng 4.0, là thế giới PHẲNG. Các nước phát triển kiểu TBCN như Xingapo, Thái Lan, hay như Thụy Điển, Canađa vv... chính quyền của họ cũng tìm mọi cách cho dân giàu, nước mạnh... Và nói công bằng hơn, do điều kiện kinh tế tốt hơn, do phát triển kinh tế thị trường sớm hơn, nhờ cơ sở vật chất hiện đại hơn nên xét về các tiêu chí cụ thể để “Dân giàu, nước mạnh.. ” các nước này có những tiêu chí vượt xa chúng ta. Một sự thật là, Việt Nam đang phấn đấu để thế giới công nhận là nước có nền kinh tế thị trường. (Hiện nay Mỹ và Liên minh châu Âu chưa công nhận Việt Nam là nước có nền kinh tế thị trường).

Nói “Định hướng XHCN” nhưng CNXH hiện tại chưa hiện thực. Chẳng hạn trước đây, Việt Nam xây dựng CNXH theo mô hình của Liên Xô. Vào thời điểm đó, mô hình Liên Xô là hiện hữu. Nhưng tiếc thay mô hình đó đã sụp đổ!. Tại thời điểm này chưa có mô hình XHCN cụ thể nào để nước ta học tập, định hướng.

Từ những lập luận trên cho thấy “cội nguồn” sự khác nhau giữa KTTT định hướng XHCN của Việt Nam và các nước TBCN là ở MỤC TIÊU đầu tiên và MỤC ĐÍCH cuối cùng.

Xét về MỤC TIÊU đầu tiên

 Như chúng ta đã biết CNTB ra đời bằng con đường tích lũy nguyên thủy và tác động của quy luật giá trị. Tích lũy nguyên thủy là sự bóc lột dã man nông dân trong nước và các dân tộc nhỏ, yếu. Nghĩa là, ngay từ khi ra đời đến quá trình phát triển nhiều trăm năm sau đó, mục đích trước hết, trên hết và đầu tiên của giai cấp tư sản là bóc lột giá trị thặng dư. Học thuyết giá trị thăng dư của C.Mác ra đời chính từ sự mổ xẻ bản chất nền kinh tế TBCN. Bác Hồ của chúng ta vì muốn Dân ta thoát khỏi cảnh bị bóc lột nặng nề, thoát khỏi sự nghèo hèn của một dân tộc mất nước đã đi tìm đường cứu nước bằng cách Bác đến những nơi được cho là văn minh nhất, phát triển nhất của chủ nghĩa tư bản đó là nước Pháp, nước Mỹ v..v và nhiều nơi khác trên thế giới. Nhưng đến đâu Bác cũng chứng kiến cảnh áp bức, bóc lột và bất công của CNTB.

Trái lại, mục tiêu đầu tiên của những người cộng sản, của CNXH: Trước hết, trên hết là cho đại đa số nhân dân lao động và cả dân tộc. Mục tiêu của cách mạng vô sản là lật đổ xã hội áp bức, bất công, giành lại tự do, cơm no, áo ấm cho đại đa số người lao động. Ngay khi Đảng ta chưa có chính quyền, cương lĩnh đầu tiên của Đảng năm 1930 đã chỉ rõ mục tiêu giành độc lập cho dân tộc, ấm no hạnh phúc cho toàn dân. Kể từ năm 1945 khi Đảng ta có chính quyền, Đảng đã phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Mục đích xuyên suốt của Đảng được khái quát ở Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XII là: Xây dựng một Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Ngày nay việc bóc lột người lao động của CNTB không còn như thế kỷ 19, 20 nữa, thậm chí nhiều nước TBCN và CNTB nói chung thực hiện tốt vấn đề an sinh xã hội. CNTB chăm lo giáo dục, y tế, chăm sóc người nghèo v..v Sở dĩ CNTB có sự thay đổi “ bản chất” đó vì CNTB đã nhanh nhạy tự điều chỉnh để thích nghi, hay nói đúng hơn CNTB không muốn bị diệt vong bởi cuộc đấu tranh của nhân dân lao động thì chúng phải tự điều chỉnh mình để tồn tại.

Xét về  MỤC ĐÍCH cuối cùng

Các học giả tư sản chứng minh CNTB đã và sẽ phát triển cao nhất, tối ưu nhất, tồn tại vĩnh viễn. CNTB có khả năng tự điều chỉnh để thích nghi, để phù hợp với sự phát triển của sản xuất, của cuộc cách mạng công nghiệp, với các hoàn cảnh tiến hóa của nhân loại.

Trái lại, học thuyết C.Mác cho rằng CNTB chỉ là một nấc thang tiến hóa của xã hội loài người. Chúng ta thừa nhận CNTB đã đóng góp và còn đóng góp cho nhân loại nhiều thành tựu có ý nghĩa to lớn. Nhưng một thực tế, trong quá trình phát triển của CNTB đã bộc lộ những khuyết tật mới đó là: Phân hóa giàu nghèo; Bất bình đẳng giữa các quốc gia, chiến tranh, tiêu cực và tệ nạn xã hội...Vì lẽ đó, loài người sẽ cần có một xã hội tốt đẹp hơn thay thế CNTB. Đến đây, câu hỏi đặt ra là “Xã hội cao hơn CNTB là gì? Thực ra những nội dung cốt lõi về một xã hội tương lai có thể khái quát những đặc trưng mà C.Mác đã dự báo từ thế kỷ 19 đó là: Một xã hội lực lượng sản xuất đã phát triển trình độ rất cao; Tạo rất nhiều của cải; Nền sản xuất phát triển có kế hoạch theo lợi ích tối đa của xã hội; Xã hội không còn giai cấp, mọi người bình đẳng.. . xã hội tiến dần vào vương quốc của tự do trong đó lao động là nhu cầu, là niềm vui, mọi người tự giác và tự do lao động; làm theo năng lực và hưởng thụ theo nhu cầu v..v. Đó là xã hội sẽ thay thế CNTB và đó cũng là xã hội mà định hướng cho con đường phát triển của kinh tế thị trường Việt Nam - Kinh tế thị trường định hướng XHCN. Như vậy những tiến bộ hiện nay trong các nước TBCN chính là đã và đang hình thành nhân tố tốt đẹp của xã hội tương lai theo dự báo của C. Mác.

Về định hướng tư tưởng đạo đức hãy chiêm nghiệm chân lý qua định hướng tư tưởng giáo lý của Phật Giáo. Sở dĩ Phật Giáo đã tồn tại và phát triển trên 2500 năm, và ngày nay càng thu hút được sự chú ý, quan tâm và noi theo của hàng trăm triệu người, là vì giáo lý của nhà Phật hướng hành động của con người tới Chân, Thiện, Mỹ, là phấn đấu cho một xã hội hòa bình và an lạc. Là giải thoát cho con người mọi khổ đau. Là quá trình từng bước tự tu luyện để chiến thắng cái xấu, cái ác trong chính mình, là quá trình tiêu diệt tham, sân, si trong mỗi con người. Chính định hướng tốt đẹp đó về giá trị đạo đức và về một xã hội bình đẳng, hạnh phúc của Phật Giáo đối với sự phát triển của loài người nên được nhiều triệu người tôn vinh, phấn đấu và hướng theo.

KTTT định hướng XHCN mà Việt Nam tiến hành đã và đang chứng minh có sức thuyết phục rằng : Đồng thời với phát triển mạnh về kinh tế ,Việt Nam cũng giải quyết thành công công tác an sinh xã hội, Phát triển kinh tế với xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế với hạn chế những bất công trong xã hội. Việt Nam hiện đang được xếp vào tốp 6 nước có chỉ số người dân hạnh phúc nhất thế giới. Đại dịch Covid - 19 hơn hai năm qua đã gây tổn thất nặng nề cho nhiều nền kinh tế, mà Việt Nam cũng không ngoại lệ. Nhưng điều khác thường ở Việt Nam với nhiều nước ở chỗ thời điểm dịch bệnh bùng phát mạnh nhất, khó khăn nhất thì Đang luôn bên cạnh đồng hành chia sẻ với khó khăn, tổn thất của Dân, mặt khác khi khó khăn nhất Dân đồng lòng thực hiện những biện pháp dập dịch của chính quyền. Hiện tại Việt Nam cũng nằm trong số ít quốc gia đã mở cửa , bình thường hóa các hoạt động kinh tế - xã hội hậu Covid - 19

 Định hướng tương lai của xã hội Cộng sản, giai đoạn đầu của nó là Chủ nghĩa xã hội mà C.Mác đã dự báo, là một xã hội tốt đẹp hơn nhiều lần so với những gì ta đang thấy ở CNTB hiện tại. Thế giới ngày nay khi mà CNXH ở Liên Xô đã sụp đổ, khi mà CNTB vẫn còn có nhiều ưu điểm mà Đảng ta đã nhìn xa, trông rộng lãnh đạo xây dựng nền kinh tế thị trường Việt Nam định hướng xã hội chủ nghĩa. Việt Nam đang có vai trò ngày càng lớn và uy tín trên thế giới: Dân giàu hơn, Nước mạnh hơn... Đó tầm cao trí tuệ vượt thời đại của Đảng cộng sản Việt Nam./.

Đồng tác giả: Bùi Văn Can; Nguyễn Huy Hoàng